Om Mani Padme Hum – Những Hạt Đậu Biết Nhảy

Án Ma Ni Bát Di Hồng: Om Mani Padme Hum: Đằng sau câu thần chú này có một ý nghĩa khác sâu xa: đó là tiếng phiên âm của tiếng chuông chùa.

Tiếng chuông chùa hay chuông bát nhã có một âm hưởng kỳ lạ. Tiếng ngân không phải vang vang, mà lại âm u, âm thanh có ảnh hưởng đặc biệt làm cho lòng người lắng xuống, như thể làm cho quên hết việc đời, quên hết buồn khổ. Đọc câu chú đó phải ngân dài tiếng “UM” ở đằng sau, để tận hưởng cái âm thanh của tiếng chuông thanh tịnh.

Tiếng UM ngân trong miệng ngậm thì mới thật là tiếng chuông chùa.
Và như thế, câu chú Om Mani Padme Hum thật ra chỉ là tiếng chuông được lập đi lập lại để gieo vào long người ý niệm thanh cao tịch mịch. Mục đích của câu chú thuộc vào Pháp môn tu niệm: cứ niệm mãi thì lòng phải lắng xuống và trở nên yên tịnh.

Tống Mai – Jan 23, 2013

Chúng ta đã có lần nói đến Đại Bi chú, cũng đã nói đến Kinh Bát Nhã,cũng có lần ai đó đã muốn rời bỏ tấm thân nặng nề này để bay theo tiêng chuông chùa, và lần này Mai lai cho đọc về Án Ma ni Bát Di Hồng Qua đây thấy răng dù “Hồng” hay “Xanh” thi lòng tin, hay trí huệ, cái tâm, luôn có một sức mạnh chuyển hóa vô biên.

Thật sự câu chú này gốc bằng tiêng phạn: Om Mani Padme Hum, hay người ta còn gọi là : “Lục Tự Đại Minh Chú” và trong một bài giảng của Đưc Đạt Lai Lạt Ma có nói: ” Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà người tu có thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân miệng ý thanh tịnh của Phật.” Theo nghĩa của câu chú, chữ Hum là Trí tuệ, tiêu biểu ý giác ngộ. Theo Đưc Đạt Lai Lạt Ma : “Âm này ứng vào trạng thái bất nhị, không thể phân chia. Trong hiển thừa, phương tiện và trí tuệ bất nhị có nghĩa là phương tiện ảnh hưởng trí tuệ, và trí tuệ ảnh hưởng phương tiện. Trong mật thừa, sự hợp nhất này ứng vào một niệm tâm thức trong đó phương tiện và trí tuệ đồng loạt hiện hành. Nói về chủng tự của năm vị Thiền Phật, HUM là chủng tựcủa Bất Động Phật [Akshobhya], sự đứng yên không gì có thể lay chuyển nổi. ” Tiếng HUM như Mai diễn tả ơ đây như là một tiếng chuông vang lên trong ý niệm, trong trí tuệ mỗi lần đọc với sức mạnh của lòng tin sẽ chuyển hóa và tinh lọc làm tâm hồn được thanh tịnh.

Nếu chúng ta đọc Om Mani Padme Hum, với tiếng “hum” vang lên trong trí óc, thì cũng chẳng khác gì ngồi vào trong một đại hồng chung với tiếng chuông vang lên vậy, niềm tin và trí tuệ sẽ giãi thoát tất cả.
PhP

 

Om Mani Padme Hum. Photo: TDLoc
Om Mani Padme Hum. Photo: TDLoc

 

NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY
Lâm Thanh Huyền

Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.

Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng.. có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng.

Tội nghiệp cho bà già thôn dã, không biết chữ, nên trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lộn cách phát âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh.

Để khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại.
Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm.

Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.
Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn.

Hôm nọ có một vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp xụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ.
Vị cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi.
Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu ?
Ông lần lần hỏi thăm :
-Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi và ở đây còn có ai khác nữa hay không ?
-Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay.
-Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc hẵn rất buồn ?
-Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có nhiều can đảm để sống hơn.
-Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy ?
-Thưa ngài , tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.

Nhà sư thở dài tiếc nuối :
-Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát Âm là Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng.

Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm.
Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư.
-Dù sao thì ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được.

Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông.
Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng.
Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung.
Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuôn rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.

Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước. Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng :
-Lúc nãy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng.
-Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy ?
-Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi.
-Xin tạ ơn Đức Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, xin đa tạ sư phụ chỉ bày.

Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.
Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời.
(Nguồn: thuvienhoasen)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *